nghệ sĩ dương cầm – the pianist (2002)

ai cũng biết chiến tranh chỉ mang đến sự tàn phá, chẳng có bên thắng bên thua, nó là sự thất bại của nhân loại.

bộ phim thuộc thể loại chính kích, chiến tranh, tiểu sử, dựa trên cuối hồi kí cùng tên của nghệ sĩ dương cầm và nhà soạn nhạc người Do Thái-Ba Lan Wladyslaw Szpilman, người đã sống sót qua cuộc diệt chủng Do Thái Holocaust.

khi đã nói đến đề tài chiến tranh, ta sẽ mường tượng ra được rằng, ở đó có giết chóc, ở đó có sự phân biệt giữa người với người, một bức tường lòng không bao giờ tháo gỡ được.

đã là năm 2025, nhưng chiến tranh vẫn tiếp diễn ở nhiều nơi dưới nhiều hình thức, nội chiến, chiến tranh biên giới, tranh chấp biển đảo, kinh tế, văn hóa, giáo dục… thật đau thương làm sao.

và ví như tổ quốc tôi đây, bên ngoài có hòa bình thì có đấy, nhưng bên trong vẫn còn đầy rẫy những nỗi bất bình theo dòng thời gian, đến bao giờ một có một giải pháp hòa hợp-hòa giải dân tộc cách hữu hiệu và thiết thực hơn.

tản mạn một chút vậy, giờ ta cùng bước vào điều ấn tượng mà bộ phim đã khơi gợi lên trong tâm hồn mình nhe.

điều sâu sắc và ấn tượng nhất đối với mình, là phân cảnh hội thoại giữa Wladyslaw Szpilman và đội trưởng Wilm Hosenfeld. Trong lúc Szpilman đang trốn ẩn trong một tòa nhà đổ nát và anh bị đội trưởng phe Đức Quốc Xã phát hiện, nhưng thay vì trừ khử anh ta, đội trưởng đã tìm cách giúp Szpilman được sống.

Wladyslaw Szpilman: I don’t know how to thank you. (Tôi không biết phải cảm ơn anh thế nào)
Captain Wilm Hosenfeld: Thank God, not me. He wants us to survive. Well, that’s what we have to believe. (Hãy cảm ơn Chúa, đừng cảm ơn tôi. Chúa muốn chúng ta sống sót. Chà! đó là những gì mà chúng ta phải tin)

mình tin là bạn cũng đã có những trải nghiệm nào đó khi vượt qua những chuyện chẳng lành diễn ra trong cuộc sống, đôi khi ta thầm “tạ ơn trời đất”, “cảm ơn ông bà tổ tiên hộ phù”, “tạ ơn Chúa!”…

giữa những đau thương và mất mát chồng chất, nhưng thay vì tuyệt vọng, nỗi niềm khao khát sống của Szpilman rất mãnh liệt, tựa như khu rừng cháy trụi đợi chờ được tái sinh. Và chính trong hoàn cảnh ấy, niềm khao khát sống mạnh mẽ trỗi dậy và bất kì một sự giúp đỡ nào cũng đều trở nên quý giá với anh.

nhưng bạn biết đấy, anh ta chẳng biết làm gì để cảm ơn người đội trưởng, nhưng viên đội trưởng kia đã nói một lời tỉnh thức tới anh, và đôi khi cũng là cho mình và cho bạn – “thank God, not me!”.

giữa một cuộc sống với nhiều bộn bề lo toan, đôi khi mình đã vô tình quên đi những ân huệ được trao ban từ Thượng Đế, mình đã sống trong sự dửng dưng và đôi khi lầm tưởng rằng những ân huệ đó là một sự hiển nhiên trong đời, nhưng không, điều đó không đúng.

mình đã thay đổi nhiều, từ vun đắp đức tin, vun đắp ý niệm về tự do, nhắc nhở bản thân rằng, cần phải yêu lấy hòa bình tự do, trân quý nó. mình ôm lấy hòa bình tự do, gieo vào đời giữa mình với người, để nó là một cầu nối bền vững.

mình xây dựng lòng tự trọng và sự tôn trọng với mọi người chung quanh, sẽ chẳng có hòa bình tự do nếu như mình không tôn trọng sự khác biệt của người khác, sẽ không có hòa bình tự do nếu mình không có lòng tự trọng để mình bảo vệ chính kiến và lẽ phải ở trong đời.

tựa như anh viên đội trưởng đã làm, anh ta trái lệnh của một thể chế chính trị, anh ta chọn lẽ phải, chọn làm điều đúng đắn, bảo vệ một người có thể không cùng huyết thống, không cùng chung một dân tộc, không cùng chung một tổ quốc, nhưng coi trọng đồng loại của mình – giữa con người với con người.

cuộc sống có hòa bình – có độc lập – có tự do – có hạnh phúc ắt nằm ở mỗi người, khi ai cũng nhận ra được giá trị cao quý của từng cá nhân trong đời.

với bạn, hòa bình và tự do là như thế nào? nó có nên được xây dựng trên nền tảng nào?

để kết lời, mình xin trích lời Cố Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô, người yêu chuộng hòa bình, cầu nguyện cho hòa bình và tìm mọi cách để hòa giải xung đột chiến tranh trên khắp thế giới.

“hãy xây cầu hòa bình, đừng xây tường”
– ĐGH Phanxico.

Đăk Mil, 30/04/2025

Bình luận về bài viết này